ĐẶNG XUÂN XUYẾN:
TIẾNG “Ừ” HIỆN SINH
TRONG CANH BẠC “HƯ VÔ”
*
Tham luận từ ChatGPT
Trần Hải Sơn giới thiệu
Bài thơ “Hư vô” của Đặng Xuân Xuyến không
phải là một tiếng gào thét, mà là một tiếng thở dài có sức nặng ghì sát đất.
Bài thơ mang dáng dấp của một cuộc độc thoại hiện sinh được khoác chiếc áo của
một buổi đối ẩm tri kỷ. Giữa lòng Hà Nội vào một buổi sáng mùa thu, khi vạn vật
thường hướng về sự bắt đầu, thi sĩ lại chọn cách lùi sâu vào miền tâm tưởng để
thực hiện một cuộc "tổng kết" nhân sinh, mà ở đó, lợi nhuận thu về
chỉ là những vết hằn của sự mỏi mệt.
HƯ VÔ
(Với Nguyễn Toàn Thắng)
Ừ, thì thêm vài chén
Cho tỉnh chìm vào say
Ta đã ngán loay hoay
Đến đâu? Từ đâu đến?
Ừ, đời là chuỗi bến
Chỉ âm thầm đổi ga
Cõi trần xoay hối hả
Nụ cười hằn vết nhăn
Ừ, kiếp sống khó khăn
Gán niềm tin cá độ
Đời đã là bể khổ
Thôi, trả về hư vô.
*.
Hà Nội, sáng 13 tháng 9/2026
ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Cái hay trước hết của tác phẩm nằm ở cấu trúc thiết lập tâm lý
qua ba tiếng "Ừ" định mệnh
mở đầu mỗi khổ thơ. Trong ngôn ngữ thường nhật, "ừ" là một cái gật đầu, một sự chấp nhận. Nhưng ở đây, ba tiếng
"Ừ" vang lên liên tiếp như
những cái buông tay bất lực tăng tiến. Tiếng "Ừ" thứ nhất là sự thỏa hiệp với cơn say để trốn chạy thực tại
loay hoay, giải phóng con người khỏi nỗi ám ảnh về nguồn gốc và đích đến
("Đến đâu? Từ đâu đến?").
Tiếng "Ừ" thứ hai là sự
thừa nhận cay đắng về quy luật thời gian, nơi cuộc đời bị cơ giới hóa thành một
"chuỗi bến" với những cuộc
"đổi ga" âm thầm và cô độc.
Và tiếng "Ừ" cuối cùng
chính là sự đầu hàng vô điều kiện trước định mệnh, đưa toàn bộ kiếp sống trả về
lại hư không.
Đặng Xuân Xuyến đã có một nỗ lực đáng ghi nhận khi hiện đại hóa
những phạm trù triết học vốn đã rất quen thuộc. Ý niệm "đời là bể khổ" của Phật giáo hay
cảm quan "hư vô" của Lão
Trang vốn là những mô-típ kinh điển trong thơ ca truyền thống. Tuy nhiên, tác
giả đã kéo các khái niệm siêu hình ấy xuống sát mặt đất bằng hệ ngôn ngữ mang
đậm hơi thở của đời sống đô thị hiện đại: những "chuyến ga", "vết
nhăn" và đặc biệt là hành vi "gán
niềm tin cá độ". Việc đưa một thuật ngữ trần trụi, mang tính may rủi
và đầy đỏ đen như "cá độ"
vào thơ để định nghĩa về niềm tin nhân sinh là một nét bút táo bạo. Nó lột tả
một sự thật nghiệt ngã: khi con người bị đẩy vào đường cùng của kiếp sống khó
khăn, ngay cả niềm tin - thứ thiêng liêng nhất - cũng bị mang ra đặt cược như
một canh bạc tất tay với số phận. Để rồi cái giá phải trả cho sự hối hả, giành
giật ấy là một hình ảnh đầy ám ảnh: "Nụ
cười hằn vết nhăn". Nụ cười không còn là biểu tượng của niềm vui, mà
là chứng tích của sự chịu đựng và tàn phai.
Hình tượng "canh bạc
nhân sinh" qua cụm từ "gán
niềm tin cá độ" chính là cái bản lề khép mở toàn bộ bi kịch của con
người hiện đại trong thơ Đặng Xuân Xuyến. Nó kéo phăng bài thơ ra khỏi lối mòn
của những bài thơ say thông thường để ném người đọc vào một thực tại trần trụi
đến gai người.
Khi viết "Gán niềm
tin cá độ", tác giả đã thực hiện một cuộc hạ bệ đầy đau đớn đối với
những giá trị thiêng liêng nhất của con người. "Niềm tin" - vốn là điểm tựa tinh thần, là cứu cánh cuối cùng để
con người bấu víu vào cuộc sống - giờ đây lại bị rẻ rúng, biến thành một thứ
tài sản thế chấp (gán) trong một trò chơi may rủi mang tính triệt hạ (cá độ)
với số phận. Con người hiện đại không còn tư thế làm chủ vận mệnh; họ đứng
trước cuộc đời như một con bạc khát nước, mệt mỏi nhưng vẫn phải tất tay, đem
cả phần hồn ra để đặt cược vào những biến số đầy rủi ro của cơm áo, gạo tiền và
danh vọng. Cái bi kịch ở đây là họ biết rõ mình cầm chắc phần thua trong tay,
bởi "nhà cái" chính là cuộc
đời, là cái "cõi trần xoay hối hả" kia.
Nếu Vũ Hoàng Chương tìm đến hư vô như một vương quốc tự do của
cái tôi ngông cuồng, Nguyễn Bính tìm thấy nó trong nỗi cô đơn dọc đường xứ lạ,
thì Đặng Xuân Xuyến lại chạm vào hư vô khi canh bạc cuộc đời đã hạ màn và con
người nhận ra mình trắng tay từ trong tư tưởng. Chính sự trần trụi, sặc mùi phố
thị và không cần làm dáng này đã biến Hư vô thành một tiếng lòng rất thực của
con người thời đại hôm nay.
Dưới góc nhìn phê bình văn học, “Hư vô” là một lát cắt
tâm trạng chân thực nhưng lại tự giới hạn mình trong một không gian nghệ thuật
khá tù túng và ngột ngạt. Bài thơ kết thúc bằng một giải pháp mang tính triệt
tiêu: "Thôi, trả về hư vô".
Câu thơ buông xuống nhẹ bẫng nhưng lại để lại một khoảng trống mênh mông của sự
bế tắc. Tác giả đã gọi tên được bi kịch, phơi bày được vết thương, nhưng lại
chọn cách khép lại cánh cửa bằng sự hoài nghi hư vô chủ nghĩa, không để lại một
kẽ hở nào cho ánh sáng của sự tự thức hay khát vọng tái sinh. Thêm vào đó, việc
mượn rượu để quên đời hay nhìn cuộc đời như một chuỗi ngày vô nghĩa tuy đậm
tính trữ tình nhưng vẫn đi theo một lối mòn tư duy khá quen thuộc trong thơ ca
trung đại và lãng mạn giai đoạn trước, khiến tác phẩm chưa thực sự tạo ra được
một bước ngoặt triết lý mang tính đột phá hay một "thần cú" làm thay đổi hệ nhận thức của người đọc.
Dẫu còn những giới hạn về mặt tư tưởng mang màu sắc bi quan hiện
sinh, “Hư vô” vẫn là một tác phẩm có giá trị tự thân nhờ vào sự thành
thật tuyệt đối của cảm xúc. Đặng Xuân Xuyến không cố lãng mạn hóa nỗi đau hay
khoác lên mình chiếc áo vĩ cuồng của một triết gia. Ông chỉ đơn giản là một
người đàn ông trung niên ngồi lại với tri kỷ, cởi bỏ mọi mặt nạ của lý trí để
thừa nhận sự yếu đuối hợp pháp của con người trước sự vô biên của thời gian và
sự hữu hạn của kiếp người. Chính sự trần trụi không che đậy đó là thứ dung môi
giúp bài thơ chạm được vào góc tối khuất lấp trong tâm hồn của nhiều thế hệ độc
giả.
Mời nhấp chuột đọc thêm:
- Các bài viết về khoa
Phong Thủy0
- Các bài viết về khoa
Tướng thuật0
- Các bài phê bình,
cảm nhận thơ0
- Các bài viết về chăm
sóc sức khỏe0
- Các bài viết về Kiến
thức cuộc sống0
- Các bài viết về
Chuyện làng văn0
Mời nghe Đặng Xuân Xuyến đọc bài thơ
SAO MÀ MỘT MỚ BÙNG NHÙNG thơ Đặng Xuân Xuyến:
*.
TRẦN HẢI SƠN
Địa chỉ: Khu dân cư 18
Thịnh Quang,
Đống Đa, thành phố Hà Nội.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét