Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2026

CHỢ TRƯA CẢM TÁC - NHỮNG NẾP NHĂN TRÊN GƯƠNG MẶT MƯU SINH - Tác giả: Trần Hải Sơn

 


CHỢ TRƯA CẢM TÁC

- NHỮNG NẾP NHĂN

TRÊN GƯƠNG MẶT MƯU SINH

 

Tham luận từ ChatGPT

Trần Hải Sơn thực hiện

 

(Tác giả Trần Hải Sơn)

Trong cõi thơ của Đặng Xuân Xuyến, những mảnh đời thường nhật hiện lên không phải để tô vẽ sự bình yên giả tạo, mà để phơi bày cái "gân" nghiệt ngã của đời sống mưu sinh. Với "Chợ trưa cảm tác", thi sĩ dấn thân vào cái bụi bặm, ồn ã của đời thực để chưng cất nên một tứ thơ tứ tuyệt đầy ám ảnh. Bài thơ như một nét vẽ ký họa nhanh nhưng sắc lẹm, chứa đựng cái nhìn thấu thị của một cây bút lão luyện trước nỗi lo cơm áo của người dân lao động.

CHỢ TRƯA CẢM TÁC

 

Bà bán cá ngồi mặt nhăn nheo

Ông lão mua rau trả kỳ kèo

Chú hàng thịt lợn cười chèo kéo

Cô bán bún bò cố "ới" theo.

*.

Hà Nội, trưa 31 tháng 01 - 2026

(Ngày 13 tháng Chạp năm Ất Tỵ)

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Điểm sáng đầu tiên trong nghệ thuật câu chữ chính là việc khai thác triệt để hệ thống vần "eo" (nheo - kèo - kéo - theo). Đây là loại vần hẹp, gợi cảm giác về sự thắt ngặt, nhỏ bé và thiếu hụt. Các từ láy này không đơn thuần tạo nhạc điệu, mà đặc tả cái diện mạo "eo sèo" của một nền kinh tế dân sinh đang thắt lưng buộc bụng. Ngôn ngữ thơ ở đây đã trở thành thứ ngôn ngữ của sự thật trần trụi, nơi mỗi vần xoay đều xoáy sâu vào nỗi lo toan của con người.

Hình ảnh bà bán cá với khuôn mặt "nhăn nheo" ở câu mở đầu không đơn thuần là dấu vết của tuổi tác. Cái nhăn mặt ấy là sự dồn nén của nỗi lo âu khi phiên chợ đã sang trưa, là cái nắng cháy sém trên da thịt hòa cùng nỗi sợ hàng ế. Nó tạo nên một sự cộng hưởng xót xa với hành động "kỳ kèo" của ông lão mua rau. Ta hãy nhìn kỹ vào chi tiết này: khi một người già phải tính toán, chi li từng đồng cho mớ rau - món hàng vốn chẳng đáng là bao - thì đó chính là bằng chứng đanh thép nhất cho một nền kinh tế dân sinh đang kiệt quệ. Sự "kỳ kèo" ở đây mang gương mặt của sự tằn tiện đến cùng cực, là biểu hiện của một đời sống mà mỗi hào lẻ đều phải cân đo bằng mồ hôi nước mắt.

Bức tranh chợ trưa hiện lên qua bốn nhân vật, mỗi người một dáng vẻ nhưng đều được "tạc" lại bằng những tính từ và động từ mang sức nặng của sự khốn khó. Hãy nhìn cách ông viết về bà bán cá: "ngồi mặt nhăn nheo". Ba chữ "mặt nhăn nheo" không chỉ là dấu vết thời gian, mà chính là sự co rút của tâm trạng trước thực tế ế ẩm. Đó là cái nhăn mặt đầy lo âu khi phiên chợ đã vãn mà rổ cá vẫn còn đầy. Ngay sau đó, hành động "trả kỳ kèo" của ông lão mua rau như bồi thêm một nét vẽ xót xa. Từ láy "kỳ kèo" ở đây mất đi vẻ giao đãi vui vẻ thường thấy, mà hiện lên như một sự chi li bắt buộc. Khi người ta phải mặc cả sát sao ngay cả với mớ rau - món hàng rẻ nhất - thì đó là lúc túi tiền đã cạn kiệt, buộc con người phải tằn tiện đến mức nghiệt ngã.

Đến câu thứ ba, sự chật vật đẩy nhịp thơ trở nên hối hả một cách tội nghiệp qua nụ cười "chèo kéo" của chú hàng thịt. "Chèo kéo" vốn mang sắc thái tiêu cực, nay đi cùng cái "cười" tạo nên một hình ảnh đầy mâu thuẫn: đó là nỗ lực cuối cùng để giải quyết sạp hàng, một sự hạ mình đầy nhẫn nại của người bán trong cơn bĩ cực của sức mua. Bài thơ kết thúc bằng một thán từ đầy ám ảnh: "cố 'ới' theo". Chữ "cố" chính là nhãn tự của bài thơ, nó lột tả sự kiệt sức và niềm hy vọng mong manh. Tiếng "ới" không còn là tiếng rao đon đả của buổi sớm mai sầm uất, mà là tiếng kêu đơn độc, níu kéo chút cơ hội mưu sinh cuối cùng trong không gian chợ trưa đang vắng lặng dần.

Sự chuyển dịch từ người mua sang người bán ở hai câu sau không làm không khí giãn ra, mà càng làm đậm thêm sự nghẹt thở của cuộc mưu sinh. Cái cười "chèo kéo" của chú hàng thịt lợn thực chất là một nỗ lực đầy mệt mỏi. Đó là nụ cười "nghề nghiệp" – một công cụ sinh tồn để mong sao giải quyết nốt sạp hàng khi giờ ngọ đã điểm. Đỉnh điểm của sự chua chát dồn nén vào chữ "cố" trong câu cuối: "Cô bán bún bò cố 'ới' theo". Động từ "cố" nghe nặng nề và đầy cưỡng ép. Nó cho thấy sức cùng lực kiệt của người lao động. Tiếng "ới" đặt trong ngoặc kép không còn là tiếng rao đon đả, mà là một nỗ lực níu kéo tuyệt vọng, một âm thanh lạc lõng văng vẳng trong không gian chợ trưa vắng vẻ, phản ánh nỗi ám ảnh về một buổi chợ ế ẩm.

Nghệ thuật đối xứng giữa các nhân vật (bà - ông, chú - cô) tạo nên một cấu trúc vòng lặp của sự bế tắc: người mua thì thắt chặt chi tiêu, người bán thì nỗ lực trong tuyệt vọng. Đặng Xuân Xuyến đã sử dụng những thi liệu "phi thơ" nhất như thịt lợn, bún bò, rau cá để kiến tạo nên một không gian hiện thực tâm trạng sắc nét. Mốc thời gian ngày 13 tháng Chạp (ngày Tết Nội) được ghi chú rất kỹ, như một sự xác tín về nỗi buồn nhân thế. Giữa không khí cận Tết lẽ ra phải đủ đầy, bức tranh "Chợ trưa cảm tác" lại hiện ra như một lời tự sự đầy trăn trở về những thân phận thấp bé đang gồng mình chống chọi với vòng xoáy thiếu hụt.

Cái bi kịch của bài thơ còn được đẩy lên cao trào khi tác giả đặt mốc thời gian là ngày 13 tháng Chạp. Đây là lúc lẽ ra người ta phải rộn ràng sắm sửa, phải hào phóng với nhau hơn. Thế nhưng, hiện thực hiện ra lại là sự chi li, chật vật và cố gắng đến kiệt cùng. Đặng Xuân Xuyến đã rất bản lĩnh khi dùng một thể thơ vốn thường để vịnh cảnh, ngụ tình để tạc nên một bức tượng đài về sự khó khăn của người dân lao động. Bài thơ không chỉ là một cảm tác tức thời, mà là một lát cắt hiện thực sâu sắc, ghi lại hơi thở gấp gáp và nhọc nhằn của những thân phận thấp bé giữa lòng Hà Nội những ngày cuối năm.

*.

TRẦN HẢI SƠN

Địa chỉ: Khu dân cư 18 Thịnh Quang,

Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét